TIẾNG NÓI CỦA NGÀNH VIỆT NAM HỌC
Chào mừng bạn đến với diễn đàn Việt Nam học. Diễn đàn là nơi gặp gỡ của những tri thức về khoa học Việt Nam học và các lĩnh vực liên quan. Để sử dụng được hết tài nguyên của diễn đàn, vui lòng Đăng ký nếu bạn chưa có tài khoản trong diễn đàn hoặc Đăng nhập nếu bạn đã đăng ký tài khoản. Chúc quý vị và các bạn có những giờ phút hữu ích cùng diễn đàn.

TIẾNG NÓI CỦA NGÀNH VIỆT NAM HỌC

HTTP://VIETNAMHOC.THE-TALK.NET/
 
Trang ChínhTrang Chính  ViệtNamhọcViệtNamhọc  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Đền Voi Phục

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
binbini21
New member
New member
avatar

Tổng số bài gửi : 1
Join date : 15/09/2011

Bài gửiTiêu đề: Đền Voi Phục   Fri Sep 16, 2011 11:26 pm

Đền Voi Phục( Thăng Long Trấn Tây)
Vị trí: gần công viên Thủ Lệ, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội.
Lịch Sử:
Tương truyền, đền Voi Phục được xây dựng năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 7 (năm 1065) đời vua Lý Thánh Tông trên một khu gò cao thuộc vùng đất của trại Thủ Lệ -một trong 13 làng trại ở phía tây kinh thành Thăng Long .
Trải qua những biến thiên của lịch sử và nhiều lần trùng tu nay đền không còn hình dáng cũ: Đền chính là địa bàn trận phục kích quân Pháp của quân dân ta ngày 21-12-1873 và ngày 18-5-1882 (ngày 2 tên quan 5 giặc là Villers và Henri Rivière đã tử trận).
Năm 1947, giặc Pháp mở rộng chiến tranh, đánh lên Sơn Tây, đã đốt trụi đền Voi Phục.
Đến năm 1953, dân vùng này đã quyên góp tiền và xây dựng lại, song không được như cũ. Từ năm 1954 đến nay cũng đã có nhiều đợt tu sửa nhỏ.
Đầu năm 1994, nhân dân Thủ Lệ đã quyên góp đúc lại quả chuông chiều cao 93cm, đường kính miệng 70cm, thân chia 4 múi, mỗi múi có 2 hàng chữ Hán đúc nổi "Tây trấn thượng đẳng"

Ngày 10/8/2000, thành phố Hà Nội khởi công tu sửa lại Đền Voi Phục. Đợt tu bổ này tập trung chủ yếu vào khôi phục nhà Hữu Vu, hoàn chỉnh kiến trúc tổng thể cho khu di tích.

Ngày 4/7/2009, Đền Voi Phục một lần nữa được trùng tu tôn tạo để hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội.
Thần tích về Thần được thờ.
Sách xưa chép, thần vốn là hoàng tử thứ tư của Vua Lý Thánh Tông, mẹ là Hoàng phi họ Nguyễn (thường gọi là Hạo Nương, người làng Đồng Đoàn, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây – nay là làng Bồng Lai, xã Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Nội).
Linh Lang Đại vương sinh nhằm ngày 13 tháng Chạp năm Giáp Thìn (1064), được đặt tên là Hoằng Chân. Tương truyền, hoàng tử Hoằng Chân sinh ra đã có diện mạo khôi ngô, tuấn tú. Suốt tuổi thơ, hoàng tử sống trong cung cùng mẹ ở khu Thị Trại (nay là phường Thủ Lệ). Lớn lên, Hoằng Chân tỏ rõ là chàng trai văn võ song toàn.
Thuở ấy, giặc Tống liên kết với quân Chiêm Thành kéo hàng vạn hùng binh bao vây chiếm đánh Đại Việt. Thế giặc khi ấy rất mạnh. Nhà vua bèn xuống chiếu vời nhân tài đánh giặc cứu nước. Khi sứ giả của nhà vua đi ngang qua Thị Trại, hoàng tử Hoằng Chân nhờ sứ giả về tâu với Vua chuẩn bị cho mình một lá cờ hồng, một cây giáo dài, một thớt voi.
Sứ giả vui mừng vội về tâu lại với nhà vua. Nhà vua bèn cấp đủ những thứ hoàng tử Hoằng Chân yêu cầu, ngoài ra còn cấp thêm hơn năm ngàn binh mã.
Nhận được đồ vật vua ban, Hoằng Chân bèn thét lớn: “Ta là thiên tướng”. Con voi nghe tiếng thét bèn phủ phục xuống để hoàng tử ngự lên. Trên lưng voi, hoàng tử Hoằng Chân chỉ đạo hơn năm ngàn binh mã vua ban và 121 nghĩa sĩ của Thị Trại đánh thẳng vào nơi giặc đồn trú.


Giặc Tống thấy quân ta hùng dũng xông tới, nghe tiếng voi gầm ngựa hí thì hồn siêu phách tán, bỏ cả gươm giáo tháo chạy thoát thân. Trận ấy, hoàng tử và ba quân ca khúc khải hoàn. Nhà vua rất đỗi vui mừng, cho mở yến tiệc khao quân.
Sau buổi yến tiệc, nhà vua tỏ ý muốn nhường ngôi cho hoàng tử Hoằng Chân, nhưng hoàng tử không nhận. Sau đó ít lâu, hoàng tử Hoằng Chân lâm bệnh nặng. Nhà vua truyền ngự y đến cứu chữa cho ngài, nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Không lâu sau, hoàng tử qua đời.
Nhà vua tiếc thương, bèn phong hoàng tử Hoằng Chân làm Linh Lang Đại vương, cho lập đền thờ ngay tại Thị Trại, đổi tên Thị Trại thành ra Thủ Lệ, lại xuống chiếu cho người dân làng ấy được hưởng “Hộ nhi sở tại”, tức là được miễn phu phen, tạp dịch muôn đời để chuyên tâm thờ phụng Linh Lang Đại vương.
Sau này, khi nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông nhà Lê tiễu trừ Mạc Thị, các vị tướng xuất trận tới đền cầu đảo và đều giành thắng lợi. Vua Trần Thái Tông hàm ơn bèn sắc phong thêm 5 chữ: “Bình Mông Vương Thượng Đẳng”. Triều Lê Trung Hưng phong thêm 8 chữ: “Phối Đồng Thiên Địa – Vạn Cổ Lưu Truyền”.
Trải qua các triều đại từ thời nhà Lý đến thời nhà Nguyễn sau này đều phong ngài làm “Thượng Đẳng Thần”.
Gắn liền với sự tích con voi phủ phục khi nghe tiếng thét của hoàng tử, ngôi đền được gọi là đền Voi Phục từ ấy. Ngày nay, ở cổng đền vẫn còn nguyên 2 bức tượng voi phủ phục hai bên, đời đời tưởng nhớ vị anh hùng đánh giặc cứu nước được nhân dân biết ơn phong thánh, thờ phụng muôn đời.
Kiến trúc:
Đền Voi Phục hiện nay nằm tại phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội. Trước đây, đền nằm trong hệ Tứ Trấn, “giữ” phía Tây kinh thành. Nơi đây vốn là đất lắm hồ ao, lầy lội, là một trong Thập tam trại có từ thời Lý. Đương thời, thuộc tổng nội, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên (trước đó là øng Thiên). Từ thời Gia Long trở đi, lúc nhập về Hà Đông lúc thuộc Hà Nội. Tới năm 1942 thì ổn định nằm trong đất đô thành. Đền Voi Phục nằm trên gò long thủ (đầu rồng) quay hướng Nam, ngả chút ít sang đông, đó là các hướng của nguồn sinh lực vũ trụ vô biên, của thánh thần, cũng là hướng của đế vương. Ý nghĩa này càng được khẳng định với những đầm hồ nối tiếp làm nền cho gò Lớn, gò Đất, gò Nhót, gò Đầm Tràng, Núi Trúc, Núi Rùa, Núi Bò…người xưa thường cho rằng đó là hình thức tượng trưng khắp nơi chầu về điện Thánh. Mặt khác, thời gian gần đây (đầu thế kỷ XX về trước) khu vực này còn mang bóng dáng của một làng Việt cổ truyền, phía Đông của đền là nơi cư trú, còn phía Tây gắn với các kiếp đời đã qua, có cây cối như một khu rừng nhỏ.
Địa bàn quanh đền Voi Phục (trước đây) rất ít ruộng đất, dân sống chủ yếu bằng đánh bắt thuỷ sản…Nhưng, có lẽ từ rất sớm, đền thờ thánh Linh Lang này đã là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long, nên được các đời nối nhau tôn tạo thay mới, vì thế khó có thể tìm được ở đây những dấu vết cổ truyền. Tuy nhiên, có thể nghĩ, không gian của đền được bảo trợ của tín ngưỡng dân gian và tư tưởng thiền lão mà đường dẫn vào cửa thánh với cây cối la đà như con đường dẫn khách hành hương hoà nhập vào cõi tâm linh. Mở đầu cho đền, hiện nay là cổng tứ trụ, như những trục vũ trụ đem sinh khí từ tầng trên truyền xuống trần gian (đây là sản phẩm của thế kỷ XIX - XX), hai bên cổng có bia hạ mã và đôi voi chầu phục (hiện mới được xây thêm nghi môn tứ trụ nữa, ở sát với đường lớn).
Con đường gần trăm mét dẫn vào một kiến trúc ba gian tường hồi bít đốc, đó là nghi môn nội, được gọi là “Thượng đẳng môn” có hoành phi “Cao minh thánh”…, dấu vết xưa còn lại của kiến trúc này gồm đôi rồng mây hoá bằng đá có niên đại khoảng thế kỷ XVIII, kèm theo là mấy mảng chạm đầu rồng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Theo các cụ truyền lại thì ngày thường, nghi môn nội chỉ mở hai cửa phụ. Qua cửa này một hệ bậc đá dẫn xuống đường chính vào cửa điện. Hiện nay tường bó sân điện (phía trước) được xây bằng gạch hòm sớ, sản phẩm của thế kỷ XV - XVI. Đường lên sân có ba lối, chính giữa có 12 bậc đá rộng, nơi chỉ để rước kiệu trong ngày lễ, bình thường đi hai lối bên. Trước mặt lối giữa là một giếng vuông mang ý nghĩa tụ thuỷ tụ phúc, nơi xưa kia lấy nước cúng (có lẽ giếng đã được sửa thành vuông trong thời gian gần đây). Ý nghĩa cầu nước và cầu no đủ còn được thể hiện ở đôi rồng mây “chạm tròn” bằng đá, một sản phẩm khoảng giữa thế kỷ XIX và đôi hổ phù gắn hai bên tường cửa chính được chạm nổi, mang nét chuẩn mực.
Đền chính được kết cấu chữ công, có tiền bái 5 gian tường hồi bít đốc, sát hai bên có am nhỏ là nơi đặt ngựa đỏ và trắng, như vừa biểu hiện quyền uy nhà thánh, vừa như mang ý nghĩa “mã đáo thành công”.Nóc điện đắp đôi rồng chầu, hoành phi đề “Linh Lang từ”.Ngoài ra còn có các hình rồng, phượng, lân, rùa…vẫn như những biểu hiện của siêu lực tầng trên và ước vọng truyền đời thuộc tư duy nông nghiệp, đồng thời chúng đã như chứa đựng cả những ý niệm cổ truyền nhắc nhở chúng sinh dọn mình trong sạch trước khi bước vào cõi thánh thiện. Vượt qua toà tiền bái, nền điện được đắp cao dần, đó là dấu vết còn sót lại của một kiến trúc khá cổ. Toà “ống muống” (kết cấu nối tiền bái và hậu cung) được dựng đơn giản, hai bên bao ván bức bàn - ngăn cách với hậu cung là bộ cửa thờ, phần trên chạm thủng, phần dưới đóng ván…Toà hậu cung kết cấu một gian hai trái với bốn góc mái cong duyên dáng, mỗi góc đều có đầu đao kiểu hồi long và một con lân khá chuẩn mực, về tạo hình trong thế chầu vào trung tâm. Kiến trúc này, được bưng kín nhằm tạo nên sự thâm u, vì thế chủ yếu bên trong chỉ bào trơn đóng bén.
Theo dòng trôi chảy của lịch sử, dù là một kiến trúc tứ trấn, nhưng để tồn tại trong xã hội trọng nông thì hiện tượng dân gian hoá đã hội vào đền nhiều vị thần liên quan đến nông nghiệp, như bệ thờ Thần Nông ở bên phải cửa điện, nhà phe giáp, nhà quản tiền hậu ở bên trái, đặc biệt là hệ thống điện Mẫu ở phía trước (gồm mẫu thoải / thuỷ và mẫu thượng ngàn). Trong dân chúng còn tồn tại một câu chuyện, dù cho mẫu là mẹ tối linh, nhưng trong không gian của đền thì vía của thần Linh Lang quá mạnh, nên không thể đặt điện mẫu cùng một độ cao che mặt thần ở phía trước, vì thế buộc phải đặt thấp xuống. Suy cho cùng hiện tượng đó đã nói lên vai trò chính phụ của các đơn nguyên kiến trúc trong di tích này.

Về đồ thờ:
Bước từ ngoài vào, như trên đã nói, hai bên đầu toà tiền bái có hai am thờ ngựa đỏ (trái đền) và ngựa bạch (phải đền) to bằng ngựa thực. Ngoài ý nghĩa mang tính biểu tượng của âm dương đối đãi, mã đáo thành công, tụ hội ước vọng cầu no đủ, thì chúng còn tượng cho lửa và nước, cho sinh lực của vũ trụ và là vật cưỡi của thần hay vật cõng bầu trời chuyển động, vì thế yên của ngựa thường là chim phượng (con chim thiêng có đầu đội công lý và đức hạnh, mắt là mặt trời mặt trăng, lưng cõng bầu trời, đuôi công tượng trưng cho tinh tú, cánh là gió, lông là cây cỏ, chân là đất.. hội lại là tượng cho vũ trụ, thánh nhân và nguồn sinh khí tầng trên).
Trong toà tiền bái, như nhiều đền, đặt chuông và trống. Chuông lớn vốn không có ở đền, song nó được xuất hiện ở đây là kết quả của một phật tử công đức vào năm 1994. Đối xứng là một trống đại, cũng gọi trống sấm. Các lão làng cho biết tang trống màu đỏ tượng trưng cho sinh khí của trời, rồng trên tang là biểu hiện của mây. Mặt trống có hàng diềm vân soắn chữ S là hình tượng của chớp.Mỗi lần gõ trống được coi như sấm chớp nổi nên, gọi mây về, tạo mưa ngọt cho mùa sinh sôi. Trong gian giữa toà tiền bái còn đặt bàn thờ, hạc chầu, tán lọng, bát bửu, lỗ bộ và nhiều hoành phi, câu đối ca tụng công đức nhà thánh. Sau ban thờ này là hệ thống cửa ngăn phân định nơi thờ “công đồng nhị vị Đức ông”, được coi là con của thánh, cũng là hai tướng hành khiển theo thánh đánh giặc. Tượng bằng đồng lớn gần bằng người thực, thân mỏng, dạng quan văn, thể nghiêm trang. Qua dáng dấp, nhiều người dễ liên hệ tới tượng ở Lăng Tự Đức (Huế). Đây là hai pho tượng còn lại của thời trước (niên đại không quá thế kỷ XIX). Trong toà hậu cung có sập thờ, nhang án và khám thờ trong đặt tượng Linh Lang. Hai bên có hạc chầu. Hai bên gian chính là ban thờ quan văn quan võ và bát bửu, lỗ bộ, hội lại tư thế của hậu cung thoáng như lấy gốc từ tổ chức của triều đình - Phải chăng đó là một hình thức tôn vinh truyền thống. Một hiện vật đáng chú ý ở đây là hòn đá thiêng có vết lõm, theo sự thêu dệt của người đời mà hõm đá được coi là vết gối đầu của Thánh. Song, thực ra đây là một hòn chân tảng đá mài, có thể là chứng tích kiến trúc còn lại của thời Lý, một xác nhận về vị trí của trấn Tây thành Thăng Long.
Thực chất đây là nơi thờ thần sông nước, sau được nâng lên thành thờ rồng, rồi lịch sử hoá thành thờ anh hùng giữ nước, gắn với phương tây mang tính âm. Thần Linh Lang ở đây là cùng mô thức với việc thờ ông Cộc ông Dài tức thờ rắn của cư dân sông nước xứ Bắc mà sau lịch sử hoá thành thờ Trương Hống Trương Hát.
Đưa hai thần Linh Lang và Cao Sơn về trấn giữ các cửa phía Tây và cửa phía Nam của Kinh thành chính là đã kéo các thần của cư dân phía Bắc trũng thấp và của cư dân phía Tây cao ráo là những vùng ngày nay đưọc xem là đất tổ, gắn kết sông với núi, đất với nước để trở thành Tổ quốc_ là một khái niệm thiêng liêng nhất, đồng thời cũng là sự khẳng định văn hoá truyền thống, lấy vốn cũ làm cơ sở để xây dựng bản sắc dân tộc.
Lễ hội:
Hàng năm, lễ hội Đền Voi Phục được tổ chức từ mùng 9 đến 11 tháng 2 (Âm lịch).

Về Đầu Trang Go down
Trai Làng Việt Nam
Member 5
Member 5
avatar

Tổng số bài gửi : 93
Join date : 16/08/2011
Age : 26
Đến từ : Trai Làng Việt Nam

Bài gửiTiêu đề: Re: Đền Voi Phục   Sat Sep 17, 2011 7:11 am

Mình thấy bài này rất hay nhưng bạn có thể cung cấp một số hình ảnh về đền Voi Phục cũng như hình ảnh về lễ hội để mọi người cùng biết. Mình hy vọng đây cũng là điểm đến du lịch linh tâm dành cho mọi người!

_________________
Gạo đen vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công!

Hồ Chí Minh
Các bạn nhớ viết Tiếng Việt chuẩn, có dấu!
Về Đầu Trang Go down
 
Đền Voi Phục
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
TIẾNG NÓI CỦA NGÀNH VIỆT NAM HỌC :: VIỆT NAM - ĐẤT NƯỚC - CON NGƯỜI :: Di tích Lịch sử - Văn hóa-
Chuyển đến