TIẾNG NÓI CỦA NGÀNH VIỆT NAM HỌC
Chào mừng bạn đến với diễn đàn Việt Nam học. Diễn đàn là nơi gặp gỡ của những tri thức về khoa học Việt Nam học và các lĩnh vực liên quan. Để sử dụng được hết tài nguyên của diễn đàn, vui lòng Đăng ký nếu bạn chưa có tài khoản trong diễn đàn hoặc Đăng nhập nếu bạn đã đăng ký tài khoản. Chúc quý vị và các bạn có những giờ phút hữu ích cùng diễn đàn.

TIẾNG NÓI CỦA NGÀNH VIỆT NAM HỌC

HTTP://VIETNAMHOC.THE-TALK.NET/
 
Trang ChínhTrang Chính  ViệtNamhọcViệtNamhọc  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Cấm thành Thăng Long: Nơi giao thoa văn hóa Đông – Tây

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Hoàng Hưng
Người sáng lập
Người sáng lập
avatar

Tổng số bài gửi : 408
Join date : 27/04/2008
Age : 30

Bài gửiTiêu đề: Cấm thành Thăng Long: Nơi giao thoa văn hóa Đông – Tây   Wed Apr 28, 2010 8:33 pm

Cấm thành Thăng Long: Nơi giao thoa văn hóa Đông – Tây

Hoàng Thành là nơi diễn ra sự giao thoa nhiều giá trị nhân văn có ý nghĩa toàn cầu của phương Đông và thế giới, biểu thị trong qui hoạch đô thị, tạo dựng cảnh quan, trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc và kỹ thuật xây dựng.

Kẻ Chợ thế kỷ 17, có hai thương cảng Hà Lan và Anh (S.Baron)
Nơi giao thoa và dung hợp nhiều giá trị văn hoá khu vực và thế giới
Kinh thành Thăng Long xây dựng bên bờ sông Nhị (sông Hồng) là đầu mối của các tuyến giao thông thuỷ bộ vừa nối với mọi miền của đất nước, vừa qua sông Nhị thông với hệ thống hàng hải châu Á và thế giới.

Trong lịch sử, Thăng Long - Hà Nội cũng như Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là nơi gặp gỡ và giao thoa của nhiều nền văn minh phương Đông và thế giới.

Trong số di vật tìm thấy, có tiền đồng mang niên hiệu Trung Hoa, đồ gốm sứ Trung Hoa, những mảnh bình gốm men xanh lam vùng Tây Á (gốm Islam), gốm Hizen của Nhật Bản... Thăng Long - Hà Nội đã có quan hệ giao thương với nhiều nước Đông Nam Á, Đông Á, Trung Cận Đông và từ thế kỷ 17 có quan hệ giao thương với một số nước phương Tây, thế kỷ 17 có thương điếm của Anh, Hà Lan.

Hệ giao lưu và tiếp nhận ảnh hưởng của văn minh Trung Quốc và ấn Độ. Nhiều giá trị mang ý nghĩa toàn cầu của văn minh Trung Hoa, Ấn Độ đã được biểu thị rất rõ trong kiến tạo kinh đô, nghệ thuật kiến trúc xây dựng của khu di tích. Nhưng các giá trị bên ngoài luôn luôn được tiếp nhận và kết hợp với những giá trị nội sinh, tạo nên những giá trị mang tính hỗn dung và vận dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng đất kinh kỳ, phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hoá của dân tộc.

Vùng đất Thăng Long - Hà Nội có nhiều sông hồ và nét đặc trưng nổi bật về cảnh quan thiên nhiên của kinh thành là một đô thị sông hồ. Việt Nam sớm tiếp thu thuyết phong thuỷ vốn có nguồn gốc từ Trung Hoa, nhưng vận dụng theo điều kiện thiên nhiên cụ thể của từng vùng. Trong Chiếu dời đô, vua Lý Thái tổ nói rõ thế đất định đô theo quan niệm phong thuỷ “ở giữa khu vực trời đất, được thế đất Rồng cuộn Hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện hính thế nhìn sông tựa núi”.

Đó là thế đất thiêng của đô thành đế vương “tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ”, Thanh Long ở đây là dòng sông Nhị bao quanh phía tả tức phía Đông và Bạch Hổ là núi Tản che chở phía hữu tức phía Tây. Trung tâm của kinh thành lại có núi Nùng được coi là Rốn Rồng (Long Đỗ), nơi hội tụ khí thiêng của non sông đất nước, có đường thông với Trời Đất. Chính đó là tâm điểm của Cấm thành, nơi xây dựng điện Càn Nguyên/ Thiên An/ Kính Thiên làm nơi thiết triều và cử hành các nghi lễ trọng thể bậc nhất của triều đình mà vua là người đại diện cho Trời - Đất - Người, “thông Thiên, đạt Địa, tri Nhân”.

Ba vòng thành Thăng Long vừa dựa vào thế đất phong thuỷ đó, vừa tận dụng địa hình sông - hồ vốn có của khu kinh thành. Thành Đại La hay La Thành bao bọc vòng ngoài, dựa vào sông Nhị phía Đông, sông Tô Lịch phía Bắc và Tây, sông Kim Ngưu phía Nam. Sông được tận dụng làm hào tự nhiên, làm hệ thống giao thông và thoát nước. La thành vừa là luỹ phòng vệ, vừa là đê ngăn lũ lụt và sau này nhân dân sử dụng làm đường đi.

Cho đến nay, di tích của đoạn La Thành còn được dân gian gọi là “đường đê La Thành” nói lên chức năng kết hợp thành - đê - đường của vòng thành này. Vòng thành giữa thời Lý, Trần gọi là Long thành, Phượng thành hay Long Phượng thành, thời Lê gọi là Hoàng thành là vòng thành quan trọng bảo vệ nơi làm việc của nhiều cơ quan trung ương, của quan chức cao cấp, nơi thưởng ngoạn của hoàng gia, quý tộc... Vòng thành này có thành và hào, cũng xây dựng trên cơ sở tận dụng điều kiện tự nhiên, sông hồ và gò đất cao.

Vì vậy hai vòng thành ngoài và giữa, được thiết kế và xây dựng không cần theo hình dáng cân xứng, đăng đối mà theo một quan niệm phong thuỷ cởi mở, lấy sự tiện lợi, vững chắc, tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên làm yêu cầu hàng đầu. Các kinh thành Việt Nam trước đó như thành Cổ Loa (Hà Nội), thành Hoa Lư (Ninh Bình) cũng biểu thị đặc điểm có tính truyền thống này.

Chỉ có Cấm thành xây dựng tương đối vuông vắn, nhưng qui mô chỉ vừa đủ bảo vệ bộ máy đầu não của vương triều cùng sự an toàn của nhà vua và hoàng gia, xung quanh không có thành cao hào sâu mà chỉ có tường thành được bảo vệ và canh giữ nghiêm ngặt. Trục trung tâm của Cấm thành và qui hoạch chung của Hoàng thành vẫn tuân thủ nguyên tắc phong thuỷ lấy hướng Nam làm hướng chính, các công trình tiêu biểu đều hướng về phía Nam.

Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giới. Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, Việt Nam đã tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ các thuyền buôn Ấn Độ. Sau đó, nhất là từ thời Đường, Phật giáo từ Trung Quốc truyền bá mạnh vào Việt Nam. Trong thời Lý, đầu Trần, Phật giáo thịnh đạt, phổ biến rộng rãi trong xã hội và ảnh hưởng sâu xa đến toàn bộ đời sống văn hoá của người Việt, từ vua quan, quý tộc đến các tầng lớp xã hội. Phần lớn các vua thời Lý, Trần đều tôn sùng đạo Phật, bỏ nhiều tiền của xây chùa tháp và cúng ruộng cho chùa.

Vua Trần Nhân Tông còn sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và trở thành một Phật Hoàng, một Vua - Phật được nhân dân rất sùng bái. Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu phản ánh ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều hình ảnh tháp Phật cao 7 tầng, 9 tầng cùng nhiều mô hình tháp Phật bằng đất nung hay sứ trắng trong tầng văn hoá Lý, Trần.

Một viên gạch có chữ “Hưng Hoá thiền tự” của một ngôi chùa Hưng Hoá nào đó chưa xác định được vị trí. Đặc biệt dấu ấn nghệ thuật Phật giáo qua hình lá đề, hoa sen tìm thấy trong các di tích kiến trúc cung điện thời Lý, Trần trên khắp khu di tích. Trong hình lá đề thường chạm hình rồng, phượng, tháp Phật. Hình hoa sen, cánh sen là kiểu trang trí khá phổ biến trên đầu ngói ống, đá chân tảng kê cột nhà...

Nghệ thuật Ấn Độ qua các nước Đông Nam Á mà trực tiếp là Chămpa cũng được nhận diện rõ ràng qua hình ảnh nữ thần Kinnari (thần Chim), tiên nữ Apsara đang trong động tác múa uyển chuyển chạm khắc trên mảnh tháp Phật thời Lý. Một viên gạch khắc chữ Chăm cổ cũng đã tìm thấy trong khu di tích.

Tư liệu khảo cổ học xác nhận ảnh hưởng đậm đặc của Phật giáo, của nghệ thuật Ấn Độ, Đông Nam Á tại khu di tích qua giao lưu và dung hợp văn hoá thời Lý, Trần.

Sang thời Lê sơ, ảnh hưởng của Nho giáo chiếm vị trí chi phối. Nho giáo ra đời ở Trung Hoa và lan toả ảnh hưởng ra nhiều nước phương Đông, nhất là các nước Đông Á và Việt Nam. Nhà Lê đã nâng cao Nho giáo lên vai trò thống trị, vận dụng học thuyết Nho giáo để củng cố chế độ quân chủ tập quyền, xây dựng một quốc gia độc lập, tập quyền với những qui chế chặt chẽ trong vận hành của thiết chế chính trị, trong trật tự và an ninh xã hội. Điện Càn Nguyên/ Thiên An thời Lý, Trần đổi tên là điện Kính Thiên trong quan niệm Hoàng đế là Thiên tử (con Trời), thay Trời để cai quản muôn dân. Hình ảnh con Rồng mang phong thái oai nghiêm với 5 móng trở thành biểu tượng quyền lực của Hoàng đế. Đó là hình Rồng ở thềm điện Kính Thiên và trên các đồ ngự dụng của nhà vua.

Từ thế kỷ 17 - 18, Việt Nam tiếp xúc với chủ nghĩa tư bản phương Tây và bắt đầu tiếp nhận một số ảnh hưởng của tư tưởng và nghệ thuật phương Tây. Tiêu biểu là việc nhà Nguyễn xây dựng toà thành kiểu Vauban, do kỹ sư Pháp tên là Vauban sáng tạo, được đánh giá là một tiến bộ quan trọng trong kiến trúc quân sự và quần thể thành Vauban cổ nhất trên đất Pháp năm 2008 được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới.

Toà thành Vauban ở Hà Nội do người Việt Nam thiết kế và xây dựng, theo cấu trúc Vauban nhưng cũng kết hơp với điều kiện tự nhiên và nghệ thuật dân tộc. Dòng sông Tô Lịch được cải tạo cho nối vào hào phía đông bắc để cung cấp nước cho hệ thống hào quanh thành và chảy ra sông Nhị ở Giang Khẩu (khoảng phố Chợ Gạo). Cửa Bắc (Chính Bắc Môn) và Kỳ Đài lại giữ phong cách nghệ thuật truyền thống.

Trong thời Pháp thuộc, Hành cung của thành Hà Nội có 8 cổng vẫn được bảo tồn và chính quyền Pháp xếp hạng bảo tồn năm 1925. Bên trong khu vực này, bên cạnh nền điện Kinh Thiên, xuất hiện một số kiến trúc Pháp với phong cách phương Tây.

Khu di tích mặt Tây, giáp Quảng trường Ba Đình là nơi mà ngày 2/ 9/ 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Cộng hoà dân chủ Việt Nam. Nội dung văn kiện lịch sử này là sự kết hợp những giá trị truyền thống của dân tộc, trước hết là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần độc lập, với những giá trị nhân văn của nhân loại mà tiêu biểu là Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp.

Trong thời kỳ đấu tranh hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại độc lập và thống nhất đất nước 1954 - 1975, thành cổ Hà Nội là trụ sở của Bộ Quốc phòng, là Đại bản doanh của quân đội nhân dân Việt Nam mà Đại tường Võ Nguyên Giáp là Bộ trưởng kiêm Tổng tư lệnh. Những kiến trúc cũ được sử dụng vào mục đích quân sự và một số kiến trúc mới được xây dựng, quan trọng nhất là nhà và hầm D67 nằm phía sau nền điện Kính Thiên.

Chính tại đây, bộ máy đầu não quân sự của Việt Nam gồm các tướng lĩnh cao nhất của quân đội và những nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra các quyết sách để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 2004, khu vực thành cổ Hà Nội mới được chuyên giao dần cho Hà Nội để qui hoạch thống nhất trong Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Khu di tích Hoàng thành Thăng Long đáp ứng tiêu chí Di sản văn hoá thế giới của UNESCO
Sau khi phát lộ và sau một thời gian nghiên cứu, từ năm 2004, nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế đã nhận thấy giá trị mang ý nghĩa toàn cầu của Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Nhưng vấn đề đặt ra là những giá trị của Khu di tích ứng với những tiêu chí nào trong 6 tiêu chí về Di sản văn hoá thế giới của UNESCO. Sau nhiều hội thảo, với sự trợ giúp và tư vấn của các chuyên gia quốc tế, Hồ sơ đề cử Di sản Văn hoá thế giới của Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã tập trung vào 3 tiêu chí: (ii), (iii) và (vi).

Về tiêu chí (ii): Khu di tích với bề dày lịch sử khoảng 13 thế kỷ, trong đó có gần 10 thế kỷ từ khi vua Lý Thái Tổ định đô Thăng Long đến nay, là nơi diễn ra sự giao thoa nhiều giá trị nhân văn có ý nghĩa toàn cầu của phương Đông và thế giới, biểu thị trong qui hoạch đô thị, tạo dựng cảnh quan, trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc và kỹ thuật xây dựng.

Trên cơ sở nền văn hoá có cội nguồn bền vững bên trong, các giá trị và ảnh hưởng bên ngoài được tiếp thu và kết hợp với các giá trị bên trong, được vận dụng một cách hài hoà phù hợp với điều kiện thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc.

Di tích kiến trúc sớm nhất tìm thấy trên toàn bộ khu di tích là thành Đại La do nhà Đường xây dựng làm thủ thành An Nam đô hộ phủ. Di tích phủ thành và vật liệu xây dựng mang phong cách nghệ thuật Trung Hoa thời Đường.

Sau khi định đô năm 1010, kinh thành Thăng Long được qui hoạch và xây dựng theo thuyết phong thuỷ có nguồn gốc từ Trung Hoa cổ đại và thịnh hành trong nhiều nước phương Đông, nhất là các nước Đông á. Trong mối quan hệ Thiên - Địa - Nhân, con người phải tìm thế đất trong địa hình, cảnh quan, phương hướng có sẵn của Trời Đất. Kinh đô đế vương phải có thế đất “Rồng cuộn Hổ ngồi”, lại có tâm điểm là đất thiêng của chốn Long Đỗ (Rốn Rồng), phải hướng về phía Nam.

Nhưng trong qui hoạch và xây dựng, các vương triều Việt Nam không quá câu nệ về cấu trúc phải có hình dáng cân xứng, vuông vắn mà lại coi trọng việc tận dụng các điều kiện tự nhiên mà trước hết là hệ thống sông - hồ và các đồi gò vốn có. Vì thế cảnh quan thiên nhiên và công trình nhân tạo kết hợp hài hoà, tạo nên sự tiện lợi và vững chãi của các vòng thành.

Phật giáo từ ấn Độ và Nho giáo từ Trung Hoa, lan toả hầu khắp phương Đông, mang những giá trị có ý nghĩa toàn cầu. ảnh hưởng của Phật giáo, của Nho giáo để lại dấu ấn rất đậm nét trong nghệ thuật kiến trúc, trang trí của các di tích và di vật của khu di tích qua thời Lý, Trần và thời Lê sơ .

Rồi thành tựu của công nghệ quân sự phương Tây qua cấu trúc kiểu thành Vauban của Pháp, những kiến trúc phương Tây và những giá trị tư tưởng của cách mạng Hoa Kỳ, cách mạng Pháp, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều tìm thấy những dấu ấn trong một số di tích thời cận đại và hiện đại.

Khu di tích với những di tích khảo cổ học mới phát lộ và di trên trên mặt đất, là những minh chứng về sự giao thoa và dung hợp văn hoá từ các nền văn minh phương Đông và phương Tây.

Về tiêu chí (iii): Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là trung tâm chính trị, văn hoá, trung tâm quyền lực quốc gia trong suốt thời kỳ dài từ đầu thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ 18. Tất cả các di tích, di vật phát lộ trong vùng Cấm thành đều chứng tỏ tính liên tục và sự hội tụ, kết tinh của một trung tâm văn hoá quốc gia có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài.

Trước đó, khu vực này đã từng là trung tâm quyền lực của chính quyền đô hộ nhà Đường và sau đó, là trung tâm quyền lực của Đông Dương thuộc Pháp. Khu di tích tiêu biểu cho một truyền thống văn hoá lâu dài mang tính đại diện và kết tinh của lịch sử, văn hoá Việt Nam.

Về tiêu chí (vi): Khu di tích với lịch sử khoảng 13 thế kỷ không phải đã đi vào quá khứ mà còn hiện diện với thủ đô Hà Nội của nước Việt Nam hiện đại, biểu đạt một quá trình lịch sử và văn hoá với những truyền thống, những giá trị liên hệ trực tiếp và đang hiện hữu với cuộc sống hiện nay.

Từ khi phát lộ trên diện rộng từ năm 2003 cho đến nay, đã qua 5 năm nghiên cứu. Nhưng đây là một quần thể di tích phức hợp bao gồm cả di tích khảo cổ học trong lòng đất và một số di tích trên mặt đất, đặc biệt di tích khảo cổ học, công việc nghiên cứu đã đạt một số thành quả nhưng còn nhiều vấn đề đang đặt ra và cần tiếp tục nghiên cứu, trong đó nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu so sánh và hợp tác quốc tế giữ vai trò rất quan trọng.

GS. Phan Huy Lê (Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam)

Tài liệu dẫn:

1. Chiếu dời đô, trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ Q 2, tr. 2b, Bản dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1993: 241.

2. Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Hà Nội), T.3, tr. 170; Thăng Long cổ tích khảo.

3. Đại Việt sử lược, Q. 1, tr. 12b.

4. Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, Q. 5, tr. 14b-15a.

5. Nguyễn Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán 1975. Hà Nội nghìn xưa, Hà Nội: 152 .

Theo: Tuanvietnam

_________________
Tự hào Việt Nam!
Hãy gõ Tiếng Việt chuẩn có dấu để thể hiện lòng
yêu nước, yêu tiếng nói và chữ viết dân tộc của bạn!
Về Đầu Trang Go down
http://www.vietnamhoc.the-talk.net
 
Cấm thành Thăng Long: Nơi giao thoa văn hóa Đông – Tây
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Sinh nhật Duy Long
» [Clip] Lý Tiểu Long dùng Côn Nhị Khúc quẹt diêm và đánh bóng bàn
» Cán bộ của Đài PTTH Long An đặt camera quay lén chị em
» Kênh 56 của VTC ko bắt được sóng tại Long An !
» [Thắc mắc]ĐÀI TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG?

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
TIẾNG NÓI CỦA NGÀNH VIỆT NAM HỌC :: VIỆT NAM - ĐẤT NƯỚC - CON NGƯỜI :: Bản sắc Văn hoá Việt Nam-
Chuyển đến